TRANG CHỦ | GIỚI THIỆU | DÂN TỘC HÀ NHÌ | HỌC TIẾNG HÀ NHÌ | TỪ ĐIỂN VIỆT-HÀ NHÌ | SƠ ĐỒ TRANG

Âm tắc họng - hiện tượng đặc biệt trong ngữ âm tiếng Hà Nhì

Không có nhận xét nào


Âm tắc họng là một dạng ngữ âm có khẩu hình đặc trưng là âm phát ra được ép ở cuống họng khi âm được phát ra có biểu hiện bị nén lại làm cho âm vị trở nên sắc hơn, nhấn mạnh hơn bình thường. Trong bộ chữ Hà Nhì để phân biệt âm tắc họng với các dạng âm vị bình thường khác ta dùng hậu tố "q" tức là thêm ký tự chữ cái "q" vào sau các từ biểu thị âm tắc họng.

Có một điều đặc biệt là âm tắc họng chỉ xuất hiện đối với các từ có thanh điệu ngang (không dấu) điều này xuất phát từ đặc điểm của âm vị không có thanh điệu là âm vị trung tính có thể biến đổi nhiều dạng âm khác nhau mà vẫn giữ trường độ âm thanh, trong khi các âm vị chứa thanh điệu như dấu sắc ( ՛ ), dấu huyền ( ` ), dấu nặng ( . ) bản thâm âm vị đã phần nào chứa đựng hiện tượng tắc họng.

Để làm rõ đặc điểm của âm tắc họng trong tiếng Hà Nhì ta xét các cặp ví dụ có xuất hiện của âm tắc họng như sau:

y na - bản chất của sự vật, hoặc chỉ một thuộc tính đặc trưng của sự vật (vd: Djò đhúy đhúy ư lò à ju y na - Lười là bản tính của của nó)

y naq - màu đen (vd: Phí khò hi mó y naq - Chiếc áo này màu đen)

So sánh sự giống và khác nhau khi có hoặc không có "q" ở đây từ "na" về bản chất cách viết hoàn toàn giống nhau đều là sự kết hợp của phụ âm "n" và nguyên âm "a", nếu giả sử ta không sử dụng phương pháp đánh dấu thêm "q" vào phía cuối từ thì lúc này từ "y naq" (màu đen) thành "y na" nghĩa là "bản chất của sự vật, hoặc chỉ một thuộc tính đặc trưng của sự vật" vì vậy muốn biểu thị nghĩa là "màu đen" thì bắt buộc phải sử dụng phương pháp đánh dấu ký hiệu âm vị để phân biệt, bản chất chữ "q" không tham gia vào ngữ nghĩa của từ mà tham gia vào âm vị của từ để tạo ra nghĩa.

Các ví dụ điển hình có sư xuất hiện của âm tắc họng:
    "miaq nưq - con mắt"
Nếu không có hậu tố "q" lúc này từ "mia" không còn nghĩa là mắt nữa mà có hiểu nghĩa là "muộn, muộn màng" trong từ "y mia" hoặc là "mia djé" - con dao nhọn; và từ "nư" không còn mang nghĩa là "một vật có hình hạt" mà có thể hiểu nghĩa là "trái tim" trong từ "nư ma", hoặc "nư đhie" - ngực.

Rồi rất nhiều cặp ví dụ khác: 

y kuq - sợ hãi / y ku - cao ráo
y kaq - lạnh cóng / y ka - chập chạp
đhó khuq - mái vòm, mái che / đhó khu - khom lưng
loq - nhàn rỗi / lo - đổ, ngã
lhuq - đông đủ, trưởng thành / lhu - giật lấy, tước đoạt
suq - thua thiệt / su - chăm sóc, nuôi nấng
hiaq - quét dọn / hia - sai lầm
xưq - cạo, nạo / xư - sự sạch sẽ
dzưq - ngứa ngái / dzư - tranh luận
khưq - đến nơi / khư (lạ) - mùi ngai ngái
cuy luyq cio loq (từ láy âm) - tiếng kêu lốc cốc / kuy luy kio lo - thoai thoải (địa hình chỗ thoải chỗ dốc đan xen nhau)

Qua các ví dụ trên ta thấy trong tiếng Hà Nhì có những cặp từ có nghĩa và sắc thái âm vị khác nhau nhưng chỉ có thể biểu diễn hay ghi âm bằng một từ giống nhau khi đó để phân biệt âm vị và nghĩa của từ ta cần sử dụng các biện pháp đánh dấu âm vị và thêm hậu tố "q" là lựa chọn khả dĩ nhất để thể hiện sự tắc hơi ở cổ họng khi phát âm.

p/s: đây là nội dung hơi chuyên sâu về vấn đề kỹ thuật âm vực do đó bạn đọc có chỗ nào khó hiểu có thể để lại bình luận phía dưới bài viết hoặc nhắn tin trực tiếp qua bong bóng tin nhắn xuất hiện bên cạnh phải màn hình.



Nếu bạn đọc thực sự quan tâm đến nội dung bài viết và mong muốn đóng góp những ý kiến để bổ sung hoàn thiện bài viết thì xin hãy để lại những lời nhận xét ở bên dưới. Những đóng góp của quý vị sẽ là những tri thức quý báu giúp lan tỏa sự hiểu biết đến với mọi người.