Đối với người Hà Nhì (ở Phong Thổ, Lai Châu), Tết Mùa Mưa ("Zé qhừ dzà" một số nhóm người Hà Nhì khác còn gọi với tên là "Khu già già") là một trong những lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất trong năm. Đây không chỉ là dịp để dân bản gửi gắm ước nguyện về một mùa mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là sợi dây tâm linh thắt chặt tình cảm cộng đồng, gắn bó với thiên nhiên và lòng tôn kính đối với tổ tiên. Nói về tên gọi "Zé qhừ dzà" nghĩa là ăn cùng với mưa, xuất phát từ thời điểm diễn ra ngày tết là mùa mưa với những cơn mưa xối xả ngày đêm, đất trời dung hòa.
1. Thời điểm khai hội:
Lễ hội thường diễn ra vào khoảng tháng 6 hoặc tháng 7 âm lịch. Đó là thời điểm bà con dân bản vừa hoàn thành xong xuôi việc cày cấy, đồng ruộng bắt đầu xanh màu mạ non. Ngày lành cũng có thể nói là ngày tâm linh được chọn để bắt đầu làm lý luôn là ngày Tỵ (ngày con rắn).
2. Hành trình lễ hội:
Tết Mùa Mưa (Zé qhừ dzà) là một chuỗi dài các nghi lễ độc đáo, hòa quyện giữa tính ngưỡng dân tộc và nhịp sống đại ngàn, diễn ra liên tục qua nhiều ngày:
Ngày thứ nhất (Ngày Tỵ) - Gắn kết cộng đồng và hướng về nguồn cội:
Vào buổi chiều, ông lý trưởng sẽ cử một nhóm thanh niên trai tráng, khỏe mạnh lên rừng đốn cây, tìm dây rừng (dây để làm dây đu có hai loại, một là "nùy núy á cha" dây này thường mọc ở ven các khe suối nhỏ ẩm uớt, dây mềm mại, vỏ màu đỏ hồng rất chắc chắn; hai là "djà tha ma á cha" loại dây này thường mọc ở trong rừng, thân dây cứng nhưng chắc chắn) để dựng cổng bản và cây đu. Sau khi dựng xong cổng bản và cây đu, một con lợn tế sẽ được mổ ngay tại cổng bản, thịt được chia đều cho từng hộ gia đình để làm lễ cúng tổ tiên. Ở nhà, những người phụ nữ Hà Nhì khéo léo đảm nhận phần hồn của mâm cúng: họ giã nhuyễn những nồi bánh giầy dẻo thơm, dâng lên bàn thờ cùng với chút vừng rang muối đậm đà.
![]() |
| (Ảnh: Bọn trẻ nô nức chơi đu) |
Nói thêm về cây đu "á gư ká tu" là một cây đu lớn được dựng ngay cạnh cổng bản, cây đu được dựng từ 4 thân cây để nguyên ngọn cây, hai cây một đan chéo ngọn và nối vào nhau bằng một đoạn thân cây làm xà buộc dây đu, bàn đu tức chỗ để người đu đứng để đu được đẽo từ một đoạn gốc cây, có một nét văn hóa đặc trưng xuất hiện trên bàn đu này mà theo khoa học văn hóa gọi đó là văn hóa phồn thực, cụ thể trên một đầu bàn đu được các anh thanh niên khéo léo đẽo thành hình đầu “của quý” rất hoành tráng khi dựng cây đu sẽ hiện lên một hình tượng sừng sững đầu "của quý" hiên ngang hướng ra phía ngoài cổng bản như một linh vật bảo hộ vậy. Đó là một nét văn hóa được lưu truyền từ ngàn xưa và bản thân tác giả vẫn chưa lý giải được vì sao ông cha ta lại lấy hình tượng này, có lẽ đó là biểu tượng của sự phát triển, biểu tượng gieo mầm sự sống và sự sinh sôi của một giống nòi. Vào những ngày nghỉ lễ đặc biệt là buổi tối ở cổng bản, cây đu là không gian vui chơi của thanh niên trai gái tập trung thay phiên nhau nô nức chơi đu, có những anh thanh niên khỏe mạnh đu cao đến mức với được ngọn cây đu gọi là "chsé pạ trư" - hái lá lúa, đó là những màn thể hiện lòng gan dạ, bản lĩnh của thanh niên tuổi mới lớn.
Ngày thứ hai (Ngày Ngọ) - Tình thân gắn kết:
Đây là ngày nghỉ lễ mọi người dân tạm gác lại âu lo, nghỉ ngơi tại nhà, mở tiệc mời anh em hoặc xúng xính váy áo đi thăm hỏi, chúc tụng anh em, họ hàng trong bản.
Ngày thứ ba (Ngày Mùi) - "No khè đu":
Theo tiếng Hà Nhì, ngày này tạm dịch là ngày các bà, các mẹ đi thăm ruộng nương, các anh đàn ông đi rừng hoặc săn bắt chim chóc, hòa mình vào thiên nhiên sau vài ngày dài làm lý ở nhà, đi thăm ruộng nương, đi rừng để giải tỏa bí bách trong thực hiện nghi lễ, mà có lẽ truyền thống tổ tiên xưa vốn nghèo khó bám ruộng đồng, kiếm thức ăn ở rừng từng ngày qua bữa nên cũng đã sắp xếp một ngày giữa những ngày lý kiêng kỵ dành ra một ngày để bà con đi thăm ruộng đồng khỏi bị tắt mương máng, xúc vật phá hoại, kiếm thêm thức ăn ở rừng để duy trì cuộc sống hàng ngày .
Ngày thứ tư (Ngày Thân) - "À phùy phùy hiá lho" gắn kết tâm linh:
Là ngày kiêng kỵ không làm việc đồng áng, chỉ ở nhà nghỉ ngơi hoặc tham thú anh em trong bản. Người Hà Nhì quan niệm đây là ngày ông bà tổ tiên về "quy tiên", tạm rời cõi thực để về với thế giới tâm linh, không ở bên cạnh trông nom bảo vệ con cháu nên con cháu đi làm vào ngày này là rất nguy hiểm dễ gặp rủi ro tai nạn không mong muốn. Vào buổi chiều tối nhà nhà giã bánh giầy, một số gia đình dòng họ có truyền thống làm lý "ha chi chi" và cúng tổ tiên, các gia đình còn lại trong bản đều mổ một con gà, vịt gì đó (gọi là lý "sị ní đu" - cúng tế vật hiến sinh thờ tổ tiên) và làm thủ tục "đhè chuy" dâng cúng tổ tiên với bánh giầy.
3. Những ngày kiêng kỵ và nghi lễ "phạt" cúng bản
Ngày thứ năm (Ngày Ất - Ngày con Gà):
Ngày này bà con làm lý "ha lho" (ngày kiêng con gà). Mọi người chỉ ở nhà nghỉ ngơi, ăn uống. Nếu ai tự ý đi làm nương sẽ bị quy vào tội "gà ma bẹ" và bị phạt lý phải đền một con gà để trưởng lý cúng tạ tội với "mí xó, thù đhí" - Thổ địa của bản.
Sau những ngày hội chính, mạch nguồn văn hóa của Tết Mùa Mưa vẫn tiếp diễn với các nghi thức tâm linh sâu sắc.
Đến ngày Tý (ngày con Chuột) - "Hu lho" kiêng con chuột:
Bà con kiêng ngày chuột, tuyệt đối không ra đồng. Người vi phạm sẽ bị quy vào tội "gà ma bẹ" và chịu phạt lý một con gà để lý trưởng làm lễ cúng bản.
Cách một tuần trăng sau, vào ngày Ất (con gà), dân bản tiếp tục làm lý "ha lho". Cho đến ngày Hợi (con lợn) bà con gọi ngày này là "jạ jạ", đây là ngày kiêng kỵ khắt khe nhất trong hệ thống tín ngưỡng của lễ hội. Dân bản gần như không được làm bất cứ việc gì ngoại trừ việc ăn uống và sinh hoạt nội bộ trong nhà. Khung phạt cho người vi phạm ngày này rất nặng: phải bắt nộp ngay một con lợn con để làm lý cúng bản ngay trong ngày hôm đó.
Đến ngày Sửu (con trâu) - Nghi lễ "A bhó nhẹ" (bắt châu chấu, sâu bọ):
Diễn ra ngay sau tuần kiêng ngày Hợi. Vào buổi trưa hoặc chiều, gia chủ sẽ ra nơi có thể nhìn thấy ruộng nương nhà mình và cất tiếng gọi linh thiêng: "Ơ a bhó, hò thò dzà lá ò, xò lha ngư chsé thà tự, xò no ngá nu jó mà nhiẹ" (Dịch nghĩa đại khái là: "Con châu chấu (sâu bọ nói chung) ơi, ra đây ăn bánh giầy, ba tháng mi đừng hại lúa nhà ta, ba ngày ta sẽ không bắt mi"). ngoài ra có một số gia đình có truyền thống thay vì hô gọi con châu chấu thì bắt con châu chấu cuốn vào lá cài lên 2 cành cây nhỏ mỗi cành cài 9 con châu chấu và cắm 2 cành cây vào một chỗ ở bên đường đầu bản. Đến chiều tối, khi bà con giã bánh giầy xong trước khi mang vào nhà, họ sẽ bốc một ít bánh ném ra vườn. Hành động này như một lời giao ước, giữ đúng lời hứa cho châu chấu và sâu bọ ăn bánh để chúng không phá hoại mùa màng. Tối hôm đó, các gia đình sẽ không làm lý thờ cúng nữa.
Sau khi kết thúc ngày hội ông lý trưởng sẽ ra cây đu mang theo hai lưỡi liềm hai bên tay liền chặt đứt hai bó dây đu để bàn đu rơi xuống đất khép lại một ngày hội của năm, theo quan niệm nếu bàn đu sau khi rơi xuống đất mà nằm úp xuống là điều lành, báo hiệu một năm mưa thuận gió hòa, vụ mùa no ấm cho bản làng.
Lời Kết
Tết Mùa Mưa "Zé qhừ dzà" của người Hà Nhì không chỉ là một lễ hội, mà là một bức tranh tổng hòa giữa lòng biết ơn tổ tiên, sự tôn trọng thiên nhiên và khát vọng sống hòa hợp với vạn vật. Những điều kiêng kỵ, những câu thần chú mộc mạc gửi tới con châu chấu, sâu bọ chính là minh chứng cho nét ứng xử đầy nhân văn và tinh thần gắn bó mật thiết với thiên nhiên của đồng bào dân tộc Hà Nhì.
Biên soạn: Cao A Gó


Nếu bạn đọc thực sự quan tâm đến nội dung bài viết và mong muốn đóng góp những ý kiến để bổ sung hoàn thiện bài viết thì xin hãy để lại những lời nhận xét ở bên dưới. Những đóng góp của quý vị sẽ là những tri thức quý báu giúp lan tỏa sự hiểu biết đến với mọi người.